Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585), tên huý là Văn Đạt, tự là Hanh Phủ, hiệu là Bạch Vân am cư sĩ, được các môn sinh tôn là Tuyết Giang phu tử, là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất của lịch sử cũng như văn hóa Việt Nam trong thế kỷ 16.

Tài tiên tri – Sấm Trạng Trình

Nguyễn Bỉnh Khiêm là học trò xuất sắc nhất của Bảng nhãn Lương Đắc Bằng. Nhờ được thầy truyền dạy và trao lại cho bộ sách quý về Dịch học (Chu Dịch) là Thái Ất thần kinh, ông tinh thông về lý học, tướng số. Sấm ký Nguyễn Bỉnh Khiêm, còn gọi là “Sấm Trạng Trình” là những lời tiên tri của Nguyễn Bỉnh Khiêm về các biến cố chính của dân tộc Việt trong khoảng 500 năm (từ năm 1509 đến khoảng năm 2019). Đây là những dự báo thiên tài, hợp lý, tùy thời, tự cường, hướng thiện và lạc quan theo lẽ tự nhiên “thuận thời thì an nhàn, trái thời thì vất vả”. “Trạng Trình đã nắm được huyền cơ của tạo hóa” (lời Nguyễn Thiếp – danh sĩ thời Lê mạt).

Sách Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí viết: “Vua Mạc tôn như bậc thầy, khi trong nước có việc quan trọng vẫn sai sứ đến hỏi ông. Có lúc còn triệu ông về kinh để hỏi mưu lớn”, “ông học rộng, hiểu sâu nghĩa lý Kinh Dịch, mưa nắng, họa, phúc việc gì cũng biết trước”. Ông từng đưa ra lời sấm khuyên nhà Mạc chạy lên Cao Bằng sau khi thất thủ ở Thăng Long, sẽ tồn tại được thêm ba đời. Quả nhiên, điều này đúng. Ông còn khuyên Trịnh Kiểm “giữ chùa thờ Phật được ăn oản”, tìm người trong tôn thất nhà Lê lập làm vua. Họ Trịnh làm theo và từ đó nối đời cầm quyền, nhưng danh nghĩa vẫn là tôn phò nhà Lê.

Với nhà Nguyễn, từ khi Nguyễn Kim chết, Nguyễn Uông, con cả của Nguyễn Kim đã bị Trịnh Kiểm ám hại. Trước tình thế nguy nan, Nguyễn Hoàng (con trai thứ Nguyễn Kim) đã cho người đến hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm và nhận được câu ẩn ý “Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân” (nghĩa là một dải Hoành sơn có thể dung thân được). Nhờ đó, năm 1568 Nguyễn Hoàng đã xin họ Trịnh vào trấn thủ xứ Thuận Hóa rồi dần xây dựng cơ đồ họ Nguyễn ở phương Nam.

Trong bài thơ Cự Ngao Đới Sơn, thuộc tập thơ Bạch Vân am thi tập, ông viết “Biển Đông vạn dặm dang tay giữ/ Đất Việt muôn năm vững trị bình/ Chí những phù nguy xin gắng sức/ Cõi bờ xưa cũ tổ tiên mình”. Câu này như lời khuyên của Trạng Trình với thế hệ sau, rằng phải nắm giữ được biển Đông thì đất nước mới thái bình, thịnh trị muôn đời.

Triết lí Thiện là dòng dõi của giáo dục

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong 3 người thầy đức cao vọng trọng bậc nhất của nền giáo dục Việt Nam thời phong kiến (cùng với Chu Văn An, Nguyễn Thiếp). Học trò được ông có rất nhiều người đỗ đạt thành danh. Trong đó có Lương Hữu Khánh, con trai của thầy Lương Đắc Bằng, đỗ cử nhân, trở thành tướng giỏi, văn võ song toàn; Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan thi đỗ tiến sĩ, có tài năng toàn diện về võ bị, văn học và ngoại giao; Nguyễn Dữ – nhà văn nổi tiếng trong lịch sử văn học Việt Nam…

Ông dựng am Bạch Vân, lấy hiệu là Bạch Vân cư sĩ, lập quán Trung Tân, làm cầu Nghinh Phong, Trường Xuân cho dân qua lại thuận tiện và mở trường dạy học bên cạnh sông Tuyết (hay sông Hàn) ở quê nhà. Vì vậy, sau này, các môn sinh tôn ông là “Tuyết Giang phu tử”. Nguyễn Bình Khiêm chú trọng giáo dục đạo lý ở đời, đạo làm người, hướng thiện, bởi thiện là dòng dõi của giáo dục. Ông đề cao lý tưởng cống hiến cho xã hội đất nước, noi gương các bậc thánh hiền. Ông muốn đào tạo học trò trở thành những người có thực học, có trí thức toàn diện để giúp đời.

Nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam

Nguyễn Bỉnh Khiêm là một tác gia lớn, có đóng góp quan trọng trong sự phát triển của văn học dân tộc. Đến nay, ông để lại di sản văn học đồ sộ, với hơn 800 bài thơ cả chữ Hán lẫn chữ Nôm, được ghi chép lại trong Bạch Vân Am thi tập và Bạch Vân Quốc Ngữ thi tập. Ngoài ra, ông cũng để lại nhiều bài văn bia (bi ký) nổi tiếng như Trung Tân quán bi ký, Thạch khánh ký, Tam giáo tượng bi minh… Tác phẩm của ông có ảnh hưởng sâu rộng, tác động tích cực vào đời sống tinh thần của nhân dân và góp phần thúc đẩy sự phát triển của tiến trình văn học dân tộc.

Trong dân gian còn lưu hành nhiều câu sấm Trạng. Các tập sấm ký Nôm thường mang tên Trạng Trình (Sấm Trạng Trình) và phần lớn viết theo thể lục bát như Trình quốc công sấm ký, Trình tiên sinh quốc ngữ.

Share: