Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888), tục gọi là Đồ Chiểu (khi dạy học), tự Mạch Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai (sau khi bị mù); là một trong những nhà thơ lớn của Việt Nam trong nửa cuối thế kỷ 19.

Cuộc đời nhiều gian khó

Nguyễn Đình Chiểu sinh năm 1822 trong một gia đình nhà Nho nghèo ở Tân Thới, phủ Tân Bình, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, nay thuộc quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Cha ông là Nguyễn Đình Huy, người gốc Thừa Thiên Huế, làm thư lại ở Văn hàn ty thuộc Tổng trấn Gia Định thành. Năm 1833, Lê Văn Khôi nổi lên chống triều Nguyễn, chiếm Gia Định, Nguyễn Đình Chiểu theo cha về Thừa Thiên tránh loạn và học tập.

Năm 1841, Nguyễn Đình Chiểu về Gia Định, thi đỗ tú tài và được người nhà họ Võ hứa gả con gái cho. Bốn năm sau, ông quay lại Huế học để chờ thi Hương, quyết chí đỗ cử nhân.Trong lúc dùi mài kinh sử thì nghe tin mẹ mất ở Gia Định, Nguyễn Đình Chiểu bỏ thi, theo đường bộ trở về Nam chịu tang mẹ.

Trên đường về, vì đường sá vất vả, thời tiết thất thường, lại do quá thương khóc mẹ nên ông bị ốm nặng. May ông được một thầy thuốc vốn dòng dõi Ngự y chữa cho và cũng học được nghề thuốc. Thoát khỏi chết, nhưng mắt không chữa được. Lâm cảnh mù, cửa nhà sa sút, ông lại bị gia đình vị hôn thê bội ước.

Đồ Chiểu đáng kính của nhân dân Nam Bộ

Sau ba năm chịu tang mẹ, Nguyễn Đình Chiểu mở trường dạy học và bốc thuốc ở quê nhà Gia Định. Học sinh đến rất đông. Thầy giáo Nguyễn Đình Chiểu được gọi là đồ Chiểu từ đó. Đồ Chiểu được nhiều học trò quý mến vì tài năng, đức độ. Một môn sinh của Nguyễn Đình Chiểu vì lòng cảm mến, đã tác thành cho em gái cưới thầy giáo để ông có người nâng khăn sửa túi. Năm 1854, Nguyễn Đình Chiểu và bà Lê Thị Điền kết hôn.

Năm 1859, giặc Pháp tiến đánh Gia Định, rồi mở rộng xâm lược Nam Kỳ. Đang dạy học, ông cùng gia đình phải chạy về quê vợ ở Cần Giuộc (Chợ Lớn) để sinh sống. Tại đây, ông tiếp tục dạy học và bốc thuốc cứu người. Trong thời gian ở Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu tham gia bàn bạc công việc cứu nước với các bạn hữu như Phan Văn Trị, Hồ Huân Nghiệp, Bùi Hữu Nghĩa, liên hệ mật thiết với Đốc binh Là, người chỉ huy anh dũng trong trận Cần Giuộc, tích cực giúp đỡ nghĩa quân. Trương Định vẫn thường đến hỏi ý kiến và coi ông như người tham mưu cho mình.

Năm 1867, sáu tỉnh Nam Kỳ bị Pháp chiếm, Nguyễn Đình Chiểu tiếp tục dạy học ở Bến Tre và bất hợp tác với thực dân. Nhiều lần quan cai trị người Pháp tìm cách mua chuộc ông, nhưng đều thất bại.

Lục Vân Tiên và những tác phẩm văn học để đời

Không chỉ là nhà giáo, thầy thuốc, Nguyễn Đình Chiểu còn là nhà thơ, ngôi sao sáng nhất trong nền văn học ở miền Nam nửa sau thế kỷ 19. Khoảng năm 1851, ông viết truyện thơ Nôm Lục Vân Tiên, gồm 2082 câu thơ lục bát, tỏ rõ lòng yêu chính nghĩa, ghét gian tà. Tác phẩm được nhân dân Nam Bộ đặc biệt yêu chuộng, được lưu truyền dưới hình thức sinh hoạt văn hóa như “kể thơ”, “nói thơ Vân Tiên”, “hát Vân Tiên”, được chuyển thể thành phim, chèo, cải lương.

Ngoài Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu còn có nhiều tác phẩm nổi tiếng khác như: Dương Từ Hà Mậu, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, bài thơ Chạy giặc, Tan chợ cùng nhiều tác phẩm thơ, văn tế, hịch góp phần cổ vũ, động viên nhân dân chiến đấu chống giặc.

Năm 1888, nhà thơ, nhà giáo Nguyễn Đình Chiểu qua đời. Ngày đưa tiễn ông, cánh đồng An Đức (Ba Tri, Bến Tre) rợp khăn tang. Tên của ông được đặt tên cho nhiều con đường, phố ở nước ta. Ngôi trường dành cho học sinh khiếm thị nổi tiếng của Thủ đô cũng được đặt theo tên của nhà văn hóa yêu nước này.

Share: