Nguyễn Văn Siêu (1799 – 1872), ban đầu tên là Định, sau đổi là Siêu, Còn gọi là Án Sát Siêu, tự: Tốn Ban, hiệu: Phương Đình; quê ở làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì (nay thuộc phường Đại Kim quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội) là nhà thơ, nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam ở thế kỷ 19.

Thần Siêu khổ công luyện chữ

Thủa nhỏ, Nguyễn Văn Siêu nổi tiếng học giỏi lạ thường, người đời tôn là Thần Siêu (Bạn văn chương của ông là Cao Bá Quát, được tôn làm Thánh Quát, nên mới có câu Thần Siêu – Thánh Quát). Năm 7 tuổi, Nguyễn Văn Siêu đã theo cha học viết chữ, đọc sách. 12 tuổi, cậu tự tay làm bức hoành phi với hai chữ “lạc thiên” (Yên vui với đạo trời) và đôi câu đối: “Đạo tại cổ kim vô khúc kính/ Thiên đa bồng tất sản cao nhân” (Đạo từ xưa đến nay không phải đường tắt/ Trời thường sinh bậc anh tài trong chốn nhà tranh lều cỏ) treo ở cửa buồng học của mình. Nội dung của câu đối và bức hoành phi đã bộc lộ khát vọng trở thành một người tài đức vẹn toàn của Nguyễn Văn Siêu.

Ông tuy học rộng tài cao, chỉ vì chữ xấu mà đi thi hương cũng như thi hội đều bị đánh tuột xuống. Bởi vậy mới có câu chế giễu: Thần đâu mà chữ xấu như ma/ Lọ lem cho người chẳng ngó ra. Từ đó, ông quyết chí khổ công luyện chữ cho kì được. Cuối cùng cũng như Thánh Quát, Thần Siêu nổi tiếng khắp xa gần về tài văn chương lẫn tài viết chữ.

Nhân cách lớn chốn quan trường

Nguyễn Văn Siêu từng qua các chức: viên ngoại lang Bộ Lễ (hàm ngũ phẩm), nội các Thừa chỉ, Thị giảng học sĩ (hàm tứ phẩm), án sát Hà Tĩnh, án sát Hưng Yên… Ông phụ trách việc giảng sách cho các Hoàng tử, trong số ấy có Nguyễn Phúc Hồng Bảo, Nguyễn Phúc Hồng Nhậm…Năm 1841, ông được cử làm Phân khảo tại trường Hương Thừa Thiên. Sau khi việc chữa bài của Cao Bá Quát bị phát giác, Nguyễn Văn Siêu phải tội trượng, đồ. Sau vua xét lại, ông chỉ bị cách chức. Năm 1847, Nguyễn Phúc Hồng Nhậm lên ngôi (tức vua Tự Đức). Hai năm sau (1849), Nguyễn Văn Siêu được cử làm Phó sứ trong đoàn đi sứ sang Yên Kinh (tức Bắc Kinh, Trung Quốc ngày nay). Khi đi vua Tự Đức có dặn: “Khanh học vấn uyên bác, chuyến này đi sang sứ, xem xét núi sông, phong tục, ghi chép kỹ, khi về tiến lãm”; nên lúc về (1850), ông dâng lên quyển “Vạn lý tập dịch trình tấu thảo”.

Là người tính tình ngay thẳng, Nguyễn Văn Siêu quan niệm “thà mắng ngay vào mặt, không thèm nói vụng sau lưng”. Vì thế, quan lộ của ông không ít lần rơi vào cảnh thăng trầm. Đến năm 1854, không chịu nổi cảnh “chướng tai gai mắt” chốn quan trường, Nguyễn Văn Siêu cáo quan lựa chọn con đường “tiến vi quan, thoái vi sư” (Tiến thủ làm quan, cáo ẩn làm thầy). Ngôi trường của ông mang tên Phương Đình thu hút rất đông học trò thụ nghiệp. Sau này, nhiều người thành danh như Tiến sĩ Vũ Nhự.

Người xây dựng tháp Bút

Với tinh thần chấn hưng văn hóa, Nguyễn Văn Siêu cùng các chí sĩ đất Thăng Long khởi xướng công cuộc khôi phục diện mạo cố đô. Cụm di tích đài Nghiên, tháp Bút, cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn, đình Trấn Ba… là những minh chứng về trí tuệ và tâm huyết của một trong những nhà văn hóa lớn đã lưu danh trong dân tộc.

Năm 1865, khi tôn tạo trùng tu đền Ngọc Sơn, Nguyễn Văn Siêu đã cho xây dựng nhiều hạng mục mới, trong đó có tháp Bút, đài Nghiên. Tháp Bút có hình một ngòi bút dựng ngược, gồm 5 tầng, cao 28m, trên thân khắc ba chữ Hán “Tả thanh thiên” (Viết lên trời xanh). Đài Nghiên là một nghiên mực bằng đá khổng lồ cao 0,3m, dài 0,97m, được đặt trên ba con cóc đá. Đến nay, trải qua hơn trăm năm, tháp Bút, đài Nghiên đã trở thành một hình ảnh rất đỗi quen thuộc với người Việt Nam, là một trong những biểu trưng của đạo học, ca ngợi truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam.

Nguyễn Văn Siêu mất năm 1872. Ông là một nhà Nho tiêu biểu đương thời, người thầy uyên bác đức độ và để lại nhiều tác phẩm có giá trị như: “Phương Đình văn loại”, “Phương Đình thi loại”, “Phương Đình thi văn tập”, “Phương Đình tùy bút lục”, Chư sử khảo thích; Chư sinh khảo ước; Tứ thư bị giảng; Đại Việt địa dư toàn biên (Phương Đình dư địa chí). Phương Đình dư địa chí là sách địa lý Việt Nam do ông và Bùi Ngọc Quỹ hợp soạn, có phương pháp khoa học và chính xác, khảo cứu cẩn thận, chép gọn mà đủ, có giá trị lớn, tiện lợi và thông dụng. Cho nên, sau khi khắc in, nó đã được phổ biến. Người ta thường gọi tắt là sách Địa dư Phương Đình.

Share: