Nguyễn Thiếp (1723 – 1804), quê làng Nguyệt Ao, huyện La Sơn (nay là huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh), là danh sĩ  nổi tiếng tài cao đức trọng cuối đời Hậu Lê và thời Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam.

Ẩn sĩ” danh tiếng

Năm 1743, ông đỗ đầu kì thi Hương ở Nghệ An, nhưng không ở lại dự thi Hội mà đi ở ẩn. Năm 1748 Ông ra Bắc dự thi Hội, vào đến tam trường, sau đó ông vào Bố Chính dạy học. Năm 1756, ông giữ chức Huấn đạo (chức quan trông coi việc học) ở phủ Anh Sơn, thời gian sau làm Tri huyện Thanh Giang, Nghệ An. Ra làm quan trong thời buổi nhiễu nhương, với cảnh tượng “chúa ác, vua hèn”, giặc giã liên miên, càng ngày Nguyễn Thiếp càng chán ngán. Năm 1768, Nguyễn Thiếp rũ áo, từ quan, lên núi Thiên Nhẫn bắt đầu sống cuộc đời ẩn cư để dạy học.

Tuy là một “ẩn sĩ” nhưng danh tiếng của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp vẫn lan tỏa khắp cả nước. Ông nổi tiếng là người đạo hạnh thanh cao, có trình độ uyên bác. Cả nước hâm mộ tôn ông là bậc thầy. Chúa Trịnh nhiều lần mời ông ra làm quan, nhưng ông từ chối. Chỉ đến khi vua Quang Trung kiên nhẫn cầu hiền đến ba lần, ông mới nhận lời giúp.

Ba lần vua Quang Trung mời ra phò tá việc nước

Năm 1786, Nguyễn Huệ đưa quân ra Bắc tiêu diệt họ Trịnh. Khi về đến Phú Xuân, Nguyễn Huệ viết thư cùng lễ vật ra tận Nghệ An mời Nguyễn Thiếp về Phú Xuân giúp mình, tỏ ý trọng dụng nhân tài Nho sĩ. Nguyễn Thiếp đã tự nhận mình tuổi cao tài hèn sức mọn, với tư cách là một thần tử nhà Lê không thể giúp gì được.

Trong thư trả lời có viết: “Trộm nghĩ Tiện sinh này tính chất ngu lậu; tài năng, học thuật không có gì hơn người. Chỉ vì có nhiều bệnh, trộm gửi thân ở chốn lâm tuyền. Bình sinh chỉ giảng tập các sách Tứ thư: Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh tử. Còn nhâm, độn, thao, lược, binh pháp, võ nghệ đều chưa học. Quý quốc ở xa, mới nghe tiếng đồn về Tiện sỹ, còn lẽ bởi đâu và thế nào, sợ chưa biết hết sự thực…Đạo thư mời, năm nén vàng, hai tấm lụa, tôi nhất thiết không dám nhận, xin kính cẩn gửi cho ông Phan Khải Đức (học trò của cụ) đưa giả y nguyên”.

Tháng 8 năm 1787, Nguyễn Huệ lại sai người dâng thư mời cùng lễ vật đến Nguyễn Thiếp. Nguyễn Thiếp vẫn khiêm nhường, một mực từ chối.  Chính Bình vương Nguyễn Huệ lại viết thư mời Nguyễn Thiếp lần thứ ba, đề ngày 13, tháng 9, năm Thái Đức thứ 10 (1787).  Nguyễn Huệ sai quan Thượng thư Bộ Hình Hồ Công Thuyên dâng thư mời. Lời lẽ trong thư chân thành, thống thiết, có đoạn: “Không ngờ nay, trông lên thành Lục Niên có người tài đương ở đó. Ấy là trời để dành Phu tử cho Quả đức vậy. Tuy Phu tử không thèm tới, nhưng lòng dân đen trông ngóng, Phu tử nỡ ngơ lảng được sao?”

Cho đến tháng 4 năm Mậu Thân 1788, trên đường ra Thăng Long, Nguyễn Huệ đã cử Cẩn Tín hầu Nguyễn Quang Đại mang thư đến mời Nguyễn Thiếp đến hội kiến. Lời thư thống thiết chân thành, sau 3 lần bị từ chối vẫn kiên trì một lòng mong ngóng, tấm thịnh tình này của Nguyễn Huệ đã chạm đến tâm can của Nguyễn Thiếp – một người vốn nặng lòng với nước với dân. Cuộc hội kiến diễn ra, hai bên tâm đầu ý hợp dù Nguyễn Thiếp vẫn giữ thái độ dè dặt. Nguyễn Huệ tin tưởng, nhờ ông chọn đất đóng kinh đô, là Phượng Hoàng Trung Đô ở núi Dũng Quyết (phía nam thành phố Vinh bây giờ).

Danh sĩ của triều Tây Sơn

Cuối năm 1977, hay tin quân Thanh tràn vào chiếm Thăng Long, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, nhanh chóng kéo quân ra Bắc. Đến Nghệ An, vua triệu Nguyễn Thiếp đến hỏi về kế sách đánh đuổi giặc ngoại xâm.  Sách Lê quý kỷ sự có chép lại: “Ngày 29 tháng 11, năm Mậu Thân (1788), Huệ đến Nghệ An, nghỉ binh. Triệu Nguyễn Thiếp đến hỏi phương lược. Thiếp nói:

– Người Thanh ở xa tới, mệt nhọc, không biết tình hình khó dễ thế nào. Vả nó có bụng khinh địch. Nếu đánh gấp thì không ngoài mười ngày sẽ phá tan. Nếu trì hoãn một chút, thì khó lòng mà được nó.

Huệ mừng lắm trả lời: – Ông nói chính hợp ý tôi….”

Sau hơn 10 ngày, trận quyết chiến thần tốc đã đại thắng, đúng như dự liệu thiên tài của vua Quang Trung và nhận định chính xác của La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp.

Sau đại thắng, theo lời mời của vua Quang Trung, Nguyễn Thiếp vào Phú Xuân cộng tác với nhà Tây Sơn, trở thành vị học giả được vua hết mực tin cậy.  Ông dâng lên vua Quang Trung một bản tấu bàn về 3 vấn đề:

Một là Quân đức – khuyên vua theo đạo Thánh hiền trị nước giúp dân

Hai là Dân tâm – khuyên vua dung nhân chính để thu phục lòng dân

Ba là Học pháp – khuyên vua chăm lo việc giáo dục.

Tuy là 3 vấn đề, nhưng cùng có mối liên quan chặt chẽ, lấy cơ sở Dân là gốc nước. Nguyễn Thiếp quan niệm: “Dân là gốc nước, gốc vững nước mới yên”.

Vua giao cho ông chức Sùng chính viện trưởng, ban cho hiệu La Sơn tiên sinh, chịu trọng trách tổ chức chấn chỉnh lại nền giáo dục khoa cử nước nhà. Kể từ đó, ông hết mực chăm lo việc dịch sách từ chữ Hán sang chữ Nôm để dạy học và phổ biến trong dân, chỉ trong thời gian ngắn đã thu được nhiều thành tựu.

Tháng 9 năm 1792, vua Quang Trung đột ngột băng hà, sự nghiệp của Nguyễn Thiếp đành dang dở. Nguyễn Thiếp lựa chọn cuộc sống ẩn cư, không tham gia vào công việc triều chính dù vua Cảnh Thịnh` và sau này là vua Gia Long có lời mời.

Đầu năm 1804, danh sĩ Nguyễn Thiếp không bệnh mà mất, thọ 81 tuổi, để lại tiếng thơm muôn đời. Đến nay, tuy đã cách xa hơn 200 năm, nhưng danh tiếng của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp vẫn mãi mãi được kính trọng. Bởi ông là tấm gương của đạo đức mẫu mực, khí chất thanh cao, suốt đời giữ tiết tháo khiêm nhường, hết lòng vì dân vì nước.

Share: