Năm Ất Sửu 905, chớp thời cơ chính quyền trung ương nhà Đường rệu rã, chính quyền đô hộ như rắn mất đầu, Hào trưởng Hồng Châu là Khúc Thừa Dụ được dân chúng ủng hộ đã tiến quân ra chiếm đóng phủ thành Đại La (Hà Nội), tự xưng là Tiết độ sứ, bắt đầu xây dựng một quốc gia tự chủ, thoát ách đô hộ ngoại bang.

Trong bối cảnh chính quyền còn non trẻ, Khúc Thừa Dụ cho một phái bộ sang thần phục nhà Đường, thực hiện sách lược “nhu chế cương”. Năm Thiên Hựu thứ ba (906), nhà Đường phải chấp nhận sự việc đã rồi, đành công nhận Tiết độ sứ Khúc Thừa Dụ, còn phong thêm cho ông chức Đồng Bình Chương sự (tức là đại thần cực phẩm, cùng ngồi bàn việc quốc quân trọng sự). Sinh thời, giáo sư Trần Quốc Vượng đã bình phẩm rằng, đây là một hành động khôn ngoan của Khúc Thừa Dụ, “cướp chính quyền một cách hòa bình để xây dựng một chính quyền tự chủ trong hoàn cảnh lịch sử ngày xưa”.

Chủ trương hòa hoãn, mềm dẻo của Khúc Thừa Dụ bấy giờ đã tạo điều kiện cho nhân dân Đại Việt và họ Khúc có khả năng giữ vững chủ quyền dân tộc trong 1/4 thế kỷ, tránh nạn binh đao do nhà Đường có thể mưu đồ tái chiếm nước Việt. Tuy mang danh một chức quan nhà Đường, thực chất Khúc Thừa Dụ đã trở thành người làm chủ đất nước. Ông được lịch sử đánh giá là người mở nền độc lập cho nước Việt ta. Còn nhân dân tôn vinh ông là Khúc Tiên chúa, còn gọi là Vua độc lập.

Năm Đinh Mão 907, Khúc Thừa Dụ qua đời. Người con trai là Khúc Hạo kế vị, tiếp tục đường lối ngoại giao với phương Bắc: lấy mềm mỏng, hòa hảo, lấy nhu, trí để thuận cương. Khúc Hạo không xưng vương, xưng đế để tránh gây sự chú ý của phương Bắc.

Khúc Hạo thay cha đúng vào thời kỳ nhà Hậu Lương vừa thay thế nhà Đường (907). Ông đã khôn khéo cho một phái bộ sang nhà Lương thần phục để giữ yên ổn phương Bắc, tập trung vào sửa sang chính sự nội trị, với mục tiêu cải thiện đời sống dân sinh. Lúc bấy giờ ở Quảng Châu họ Lưu mạnh lên, Lưu Nghiễm (nguyên danh là Lưu Nham) xưng đế, lập nên nhà nước Đại Việt, hùng cứ một phương, cắt đứt sự rang buộc với nhà Hậu Lương ở Trung nguyên. Trước tình hình đó, Khúc Hạo đã sai con là Khúc Thừa Mỹ tới Quảng Châu làm “Hoan hảo sứ” (có tài liệu chép là “Khuyến hiếu sứ”) để kết hiếu, thực chất là thăm dò tình hình đối địch…

Cùng với việc cải cách hành chính, kinh tế xã hội, như chia nước ta thành lộ, phủ, châu, giáp, xã, cho sửa lại chế độ điền tô, thuế và lực dịch… Khúc Hạo quan tâm tới quốc phòng, chú ý gìn giữ biên thuỳ. Ông biết lấy tình cảm để thu phục các hào trưởng miền biên viễn và xây dựng lực lượng bảo vệ đô thành, phòng thủ đất nước.

Về nội trị, ông lấy khoan dung, giản dị, yên ổn và vui sống của chúng dân làm mục tiêu. Bốn trăm năm sau, nhà Trần phát triển thành chiến lược “Khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách giữ nước”. Sau này các sử gia coi Khúc Hạo “là nhà cải cách đầu tiên của thời quân chủ Việt Nam”.     

Đầu năm 918, Lưu Cung (một tên khác của Lưu Nghiễm) đổi tên nước Đại Việt ở Quảng Châu thành  Nam Hán. Khúc Hạo đã sai con trai Khúc Thừa Mỹ và Ngô Mân mang lễ vật sang mừng để kết tình bang giao. Cuối năm ấy, Khúc Hạo qua đời, người con trai là Khúc Thừa Mỹ nối ngôi, cai quản đất nước.

Biết Lưu Cung tham vọng lớn, có dã tâm tráo trở, Khúc Thừa Mỹ có ý đề phòng, phái tướng lĩnh tâm phúc lên vùng thượng du liên kết với các tù trưởng các dân tộc thiểu số, tổ chức đội quân địa phương giỏi chiến đấu trong rừng núi. Ông cho thành lập các đội quân thám báo, giả làm người lái buôn, thâm nhập vùng quân Nam Hán dò tin tức.

Đồng thời, ông còn cho sứ sang Biện Kinh xin tiết việt của nhà Hậu Lương. Vua Lương là Mạt đế Chu Hữu Trinh, bấy giờ bận đối phó với các nước lớn ở Trung nguyên nên ban tiết việt cho Khúc Thừa Mỹ và phong ông làm Tiết độ sứ Giao châu.

Được sự hậu thuẫn của Hậu Lương, Thừa Mỹ chủ quan cho rằng uy thế của nhà Lương rộng lớn ở Trung nguyên có thể kìm chế được Nam Hán nhỏ hơn ở Quảng Châu. Ông công khai gọi nước Nam Hán là “ngụy đình” (triều đình chiếm ngôi, không chính thống). Sử không chép rõ biểu hiện cụ thể của việc này ra sao, không rõ ông tuyên bố việc này với sứ giả Nam Hán sang Tĩnh Hải quân (tên gọi nước Việt từ 866 – 968) hay theo như một tài liệu nói rằng ông sai sứ sang Nam Hán tỏ thái độ bất phục và gọi vua Hán là “ngụy đình”.

Chính sách đối ngoại đó của Khúc Thừa Mỹ khiến vua Nam Hán tức giận và quyết định sai Lý Khắc Chính cầm quân sang đánh chiếm Tĩnh Hải quân. Tháng 10 năm Canh Dần 930, Nam Hán đem quân tiến đánh nước ta. Khúc Thừa Mỹ bị giặc bắt, giải về Quảng Châu.

Chủ trương ngoại giao của họ Khúc từ thế kỷ X đã để lại cho đời sau những bài học quý giá trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Nhà sử học Nhật Bản Tatsuro Yamamoto, trong cuốn “Lịch sử mối quan hệ quốc tế giữa Việt Nam – Trung Quốc từ sự trỗi dậy của dòng họ Khúc đến cuộc chiến Pháp – Thanh” (History of international relations between Vietnam and China- Tokyo 1975) đã nhận định: Trải qua các triều đại Khúc, Ngô, Đinh, Lý, Trần, Lê, Tây Sơn…, các danh nhân đối ngoại: Khúc Thừa Dụ, Lê Văn Thịnh, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trãi, Phùng Khắc Khoan, Lê Quý Đôn, Ngô Thời Nhiệm đã đem tài năng ngoại giao góp phần làm rạng danh đất nước. Giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học từng nhiều lần khẳng định: Nếu nói đến người đầu tiên đặt nền móng ngoại giao ở Việt Nam, phải ghi công lao của họ Khúc.

Smartschool

Share: