Giáo dục khoa cử thời Tây Sơn phản ánh hệ thống trường học và chế độ khoa cử Đại Việt từ năm 1778 đến 1802 trong vùng đất do nhà Tây Sơn quản lý. Trong thời Tây Sơn, những chính sách về văn hóa, giáo dục có ý nghĩa tiến bộ rất lớn, đánh dấu một bước phát triển mới của văn hóa dân tộc. Trong đó, dấu ấn lớn nhất mà nhà Tây Sơn đạt được phải kể đến, đó là việc trọng dụng chữ Nôm  và mở rộng hệ thống trường học.

Trọng dụng chữ Nôm – đưa chữ Nôm vào khoa cử

Chữ Nôm tuy là chữ được xây dựng trên cơ sở chữ Hán, nhưng qua thời gian đã trở thành thứ văn tự dân tộc, ghi lại trung thành tiếng nói của nhân dân. Cuối thời Trần, chữ Nôm tuy đã được coi trọng nhưng chỉ dừng lại ở việc dịch thuật các tác phẩm chữ Hán. Đến thời Tây Sơn, buổi đầu khởi nghĩa, các thủ lĩnh Tây Sơn sử dụng chữ Nôm trong các bài hịch, thư từ, mệnh lệnh… Sau khi lên ngôi vua, Quang Trung mạnh dạn đánh đổ thành kiến độc tôn chữ Hán của các triều đại quân chủ trước, đưa chữ Nôm lên địa vị văn tự chính của Quốc gia. Cũng là lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, chữ Nôm được đưa vào khoa cử. Trong các kì thi, quan trường phải ra đề bằng chữ Nôm và đến đệ tam trường, sĩ tử phải làm thơ văn phú bằng văn Nôm. 

Cuối năm 1791, vua Quang Trung cho lập “Sùng Chính thư viện”, giao cho Nguyễn Thiếp làm viện trưởng, phụ trách trông coi việc giáo dục và dịch sách từ chữ Hán ra chữ Nôm. Việc dịch sách có sự tham gia của các danh nho như Nguyễn Công, Nguyễn Thiện, Phan Tố Định, Bùi Dương Lịch. Các sách Tiểu học, Tứ thư, Ngũ kinh đều được dịch xong và được Quang Trung khen ngợi.  

Chiếu gửi Nguyễn Thiếp mùa thu 1791 của vua Quang Trung có ghi: “ Trẫm định đặt Sùng Chính thư viện ở Vĩnh Dinh, tại núi Nam Hoa, ban cho ông làm chức Sùng Chính viện viện trưởng. Cho ông hiệu La sơn tiên sinh và giao cho ông chuyên coi việc dạy”.

Chủ trương nói trên của Quang Trung đã nói lên một hoài bão lớn lao: Nhà Tây Sơn muốn thoát ly hẳn sự lệ thuộc vào văn tự nước ngoài, chống lại chính sách đồng hóa ngôn ngữ của đế chế phương Bắc, thể hiện lòng tự tôn, tự hào và gìn giữ tiếng nói của dân tộc, bảo tồn nền văn hóa của nhân dân. 

Mở rộng hệ thống trường học đến cấp xã.

Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, việc học tập được phổ biến đến tận thôn xã. Việc này, các triều đại trước đây đều không làm được. Vua Quang Trung ban hành Chiếu lập học, theo đó, các xã phải lập nhà xã học, chọn người hay chữ, có đức hạnh phụ trách việc giảng dạy (gọi là “xã giảng dụ” – do xã lựa chọn và được triều đình cấp bằng công nhận), lại cho phép các địa phương sử dụng một số đền chùa làm trường học.  

Về nội dung giáo dục, Quang Trung bỏ hẳn lối học công thức sáo rỗng, từ chương, chú trọng tính thiết thực, sáng tạo, phù hợp với tình hình mới. Tinh thần “học ở sự nghe trông” của Quang Trung phù hợp với những ý kiến của Nguyễn Thiếp:


“Nước Việt ta từ khi lập quốc tới bây giờ, chính học lâu ngày mất. Người ta chỉ tranh nhau đua tập việc học từ chương cầu lợi và quên bẵng cái giáo tam cương ngũ thường. Chúa tầm thường, tôi nịnh hót, quốc phá gia phong, những tệ kia đều ở đó mà ra” –Thư Nguyễn Thiếp gửi vua Quang Trung năm 1791

Theo đó, phương pháp học tập là phải tuần tự mà tiến, đọc cho kĩ mà ngẫm cho tinh, học cho rộng rồi ước lượng cho gọn, theo điều học biết mà làm, họa may nhân tài mới có thể thành tựu, nhà nước nhờ đó mà vững yên. 

Chấn chỉnh việc thi cử 

Năm 1789, Quang Trung mở khoa thi Hương đầu tiên ở Nghệ An. Trong đó, quy định những người trúng tuyển kỳ thi hương gọi là tú tài, hạng ưu được sung vào quốc học, hạng thứ cho vào phủ học. Để thanh toán hậu quả của chế độ khoa cử thối nát thời Lê – Trịnh, vua Quang Trung bắt các hạng nho sinh, sinh đồ phải thi lại, hạng ưu thì công nhận cho đỗ, hạng liệt thì bắt học lại ở các trường xã, hạng “sinh đồ 3 quan”  thì thải về địa phương. 

Những chính sách trên đây, chứng tỏ Quang Trung có hoài bão lớn lao xây dựng một nền văn hóa, học thuật, giáo dục đậm tính dân tộc, nâng cao ý thức độc lập tự cường, thoát ly những ràng buộc và lệ thuộc về văn hóa đối với bên ngoài. Tuy thời gian thực hiện ngắn ngủi, nhưng những chính sách tiến bộ của Quang Trung vẫn đánh dấu một bước thắng lợi của văn hóa dân tộc, để lại nhiều bài học vô cùng quý giá cho đời sau. 

Share: