Giáo dục khoa cử thời Nguyễn là hệ thống đào tạo nhân tài, quan lại, chủ yếu phục vụ cho công cuộc củng cố bộ máy triều đình nhà Nguyễn từ năm 1802 đến năm 1919 khi khoa cử chấm dứt.

Hệ thống giáo dục nhà nước – phục hồi tinh thần Nho học

Để ổn định tình hình đất nước sau nhiều biến động, nhà Nguyễn thiết lập kỉ cương xã hội dựa trên tinh thần Nho giáo. Hệ thống giáo dục Nho học từ cấp huyện đến cấp trung ương được phục hồi. Thấp nhất là trường huyện có quan huấn đạo dạy. Lên tới phủ thì quan giáo thụ rồi đốc học ở trường tỉnh trông coi.

Văn Miếu Huế

Năm 1803 tại Huế, cho xây dựng Quốc học đường, về sau đổi tên thành Quốc Tử Giám. Phụ trách Quốc Tử Giám có quan đại thần trông coi, tế tửu, tư nghiệp, học chính cùng các chức giám thừa, điển bạ, điển tịchvà các vị nhập lưu thư lại. Sinh viên Quốc Tử Giám được chọn lựa nghiêm ngặt, gồm các cử nhân chuẩn bị thi Hội, các tôn sinh (nho sinh thuộc hoàng tộc), ấm sinh (con quan được ban ơn) và cống sinh ở các địa phương.

Nội dung giáo dục nằm trong khuôn khổ của nền giáo dục Nho học truyền thống. Giáo dục chú trọng các tác phẩm kinh điển Nho giáo (Tứ thư, Ngũ kinh), lấy sử làm đầu, chưa có các môn kỹ thuật, khoa học. Việc học lấy học thuộc lòng, từng câu, từng chữ làm yêu cầu bắt buộc. Mục đích của việc học chủ yếu là để đi thi để ra làm quan.

Hệ thống giáo dục dân gian tồn tại và phát triển song song

Bên cạnh hệ thống giáo dục công lập của triều đình, ở nông thôn cũng như thành thị còn có những thầy đồ mở trường tư dạy học. Mỗi làng có vài ba trường tư thục, hoặc ở nhà thầy, hoặc ở nhà người hào phú nuôi thầy cho con học và cho con các nhà lân cận đến học.

Sách giảng hàng ngày là kinh, truyện, sử, mà cứ ngày chẵn ngày lẻ đổi khác nhau. Như ngày chẵn: Kinh Thi, truyện Luận Ngữ, sử Hán, thì ngày lẻ: Kinh Dịch, truyện Mạnh Tử, sử Đường. Rồi theo đó cứ luân lưu mà giảng tiếp. Thầy ngồi yên rồi dưới này một trò nào chẳng hạn chiếu theo ngày mà mở ba cuốn sách nhằm chỗ tiếp với hôm trước, theo thứ tự đè chồng lên nhau và đem đặt lên ghế xuân ý trước mặt thầy. Đọc đi! Thầy truyền… Rồi một người tốt giọng bắt đầu đọc. Đọc chậm rãi mà ngân ngợi. Được vài ba tờ, tới chỗ thầy bảo dứt thì dứt. Đến phiên thầy cắt nghĩa. Ngoài ra có những người không đến nghe giảng nhưng khi thầy ra đầu bài thì cũng làm bài nộp vào để thầy chấm, con số lên đến non 100.

Một buổi học ngày xưa

Thầy đồ đa số là các vị quan về hưu hoặc những người đỗ tú tài mở lớp. Một người thầy uyên thâm, nổi tiếng có thể có đến hàng nghìn học sinh theo học, có nhiều học trò đỗ đạt thành danh. Sự tồn tại của hệ thống giáo dục tư nhân trường làng là phần đáng chú ý trong bức tranh giáo dục Việt Nam thời Nguyễn.

Khoa cử thời Nguyễn

Năm 1807, vua Gia Long bắt đầu tổ chức khoa thi Hương đầu tiên, quy định 6 năm một khoa. Năm 1825 định lại phép thi, theo đó ba năm mở một khoa thi. Trong khoảng thời gian từ 1807 đến 1918 (năm khoa thi Hương cuối cùng), nhà Nguyễn đã tổ chức được 47 khoa thi, lấy đỗ 5.278 người. Năm 1822, vua Minh Mệnh tổ chức khoa thi Hội đầu tiên. Cho đến năm 1919, nhà Nguyễn đã tổ chức được 39 khoa thi Hội, lấy đỗ 558 người.

Trường thi Nam Định năm 1912

Hầu hết những người đỗ đạt đều tham gia công việc triều đình, nhiều người nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong bộ máy. Nhiều người đã đóng góp quan trọng trong lĩnh vực văn chương và học thuật, như Phan Thanh Giản, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Xuân Ôn hay sau này như Nguyễn Khuyến. Nhiều nhà khoa bảng tích cực tham gia kháng chiến chống Pháp cuối thế kỷ XIX như Phạm Văn Nghị, Phan Đình Phùng…

Nền Nho học thời Nguyễn gặp tình thế phải tiếp xúc với văn minh Phương Tây, dần trở nên không phù hợp với thời cuộc. Trong biến động chính trị – xã hội, Nho học nhường chỗ cho nền học thuật mới. Việt Nam từ khi trở thành thuộc địa, giáo dục Nho học bịthay thế bởi nền giáo dục Phương Tây của người Pháp. Ngày 6/12/1918, Vua Khải Định đã ra bản Dụ số 123 về việc bãi bỏ kì thi Hội và khoa thi Hội cuối cùng năm 1919, chính thức chấm dứt nền giáo dục khoa cử Nho học ở Việt Nam. 

Share: