Đông Kinh Nghĩa thục (3/1907 – 11/1907) là phong trào cải cách xã hội lớn của Việt Nam đầu thế kỉ 20, nhằm khai trí cho dân, mở trường học, tổ chức những cuộc diễn thuyết, cổ động trong dân chúng.

Giáo dục quốc dân

Nghĩa thục có nghĩa là trường tư thục, do tư nhân mở vì nghĩa, vì lợi ích của quần chúng, không thu tiền của người học. Đông Kinh là tên thành Thăng Long thời Hồ Quý Ly, tức Hà Nội – địa điểm đặt trường. Đông Kinh Nghĩa thục do một nhóm sĩ phu Bắc Hà đồng sáng lập: Lương Văn Can (Thục trưởng, tức Hiệu trưởng), Nguyễn Quyền (Giám học) và Lê Đại, Nguyễn Hữu Cầu, Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Kỳ, Dương Bá Trạc, Vũ Hoành v.v… Họ đều là các nhà Nho tiến bộ, tiếp thu trào lưu duy tân từ Nhật Bản, Trung Quốc và tư tưởng của hai nhà cách mạng Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh.

Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục (Hà Nội)

Giáo dục duy tân

Đông Kinh Nghĩa thục nhận thức rất rõ tác dụng của giáo dục quốc dân đối với việc “ quốc phú, binh cường”, nên mở trường dạy những kiến thức cần thiết nhất cho đồng bào, làm cho dân giàu nước mạnh, cuối cùng tiến tới sự nghiệp giải phóng đất nước. Nhà trường không mù quáng tôn vinh Nho giáo cổ hủ mà khuyến khích học tập nước ngoài, đặc biệt là tư tưởng duy tân từ Nhật Bản và Trung Quốc, tiếp thu kiến thức kĩ thuật, văn minh vật chất từ Phương Tây, đẩy mạnh tuyên truyền chữ Quốc ngữ.

Bộ máy nhà trường gồm 4 ban: Giáo dục (mở lớp và giảng dạy), Tu thư (soạn tài liệu giảng dạy và tuyên truyền), Cổ động (tuyên truyền), Tài chính (lo kinh phí). Trường dạy các môn: Quốc ngữ, chữ Hán (chỉ để đọc tân thư), tiếng Pháp, các thường thức về xã hội, lịch sử, địa dư, chính trị, kinh tế, quyền công dân.

Nhà trường chú trọng kiến thức hiện đại, tiên tiến. Tên một số bài học trong 79 bài của sách “Quốc dân độc bản” (Sách dùng để quốc dân đọc) đã đủ thấy điều đó:  – Quan hệ giữa nước với dân; – Nỗi bi thảm của quốc gia không được độc lập; – Lòng yêu nước; – Độc lập; – Cạnh tranh; – Chính thể; – Bàn về cái hại của khoa cử; – Thuế khóa; – Pháp luật; – Nước ta nên chấn hưng thực nghiệp; – Máy móc; – Ích lợi của đại công nghiệp; – Tiền công; – Tư bản; – Nhà đại tư bản cũng có ích cho người nghèo; – Thương mại; – Tiền tệ; – Trái phiếu, hối phiếu; – Séc; – Công ty; các bài viết về nước Nhật (chính thể, giáo dục…)

Giáo dục ái quốc

Hội quán Đông Kinh Nghĩa thục treo một bản đồ tổ quốc cỡ lớn chưa từng thấy nhằm khích lệ lòng yêu nước. Đồng bào rủ nhau đến xem rất đông, ai cũng xúc động vì hầu như đây là lần đầu tiên họ được biết hình dạng tổ quốc mình trên trái đất. Nhiều tài liệu phát cho học viên có nội dung vạch trần tội ác của thực dân Pháp, kêu gọi đồng bào đứng lên cứu nước. Như “Hải ngoại Huyết thư” của Phan Bội Châu được dịch từ chữ Hán sang Tiếng Việt, chuyển thành thể thơ song thất lục bát có vần điệu rất hay, dễ nhớ dễ truyền khẩu, hầu như cả nước ai cũng thuộc lòng.

Đông Kinh Nghĩa thục được nhân dân ta vốn giàu lòng yêu nước và hiếu học hăng hái hưởng ứng, ủng hộ. Số học viên từ khoảng dăm chục lúc đầu tăng lên mấy nghìn. Hoạt động sôi nổi của Đông Kinh Nghĩa thục khiến cho thực dân Pháp lo sợ. Chỉ sau 9 tháng, Đông Kinh Nghĩa thục đã bị chính quyền Pháp ra lệnh đóng cửa và tàn bạo đàn áp. Tuy vậy, ảnh hưởng của phong trào vẫn tiếp tục lan ra khắp nơi, cổ vũ lòng yêu nước trong toàn dân, chuẩn bị lực lượng cho các phong trào đấu tranh chống Pháp về sau. Tên của phong trào sau này được đặt tên cho một quảng trường tại Hà Nội.

 

Share: