Cao Bá Quát tự là Chu Thần, hiệu Cúc Đường, biệt hiệu Mẫn Thiên, là người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Ông đã sống một cuộc đời đầy thăng trầm và biến động, nhưng vẫn luôn giữ một khí phách hiên ngang, ngạo nghễ.

Thần đồng Cao Bá Quát

Ngay từ thuở nhỏ, Cao Bá Quát đã nổi tiếng học tài biết rộng, mọi người coi như thần đồng. Chuyện kể, Cao Bá Quát ra tắm ở Hồ Tây, đúng vào lúc vua Minh Mệnh tuần du ở đó, ai ai cũng phải tránh xa, riêng cậu Quát cứ tự do vùng vẫy. Lính đến bắt lôi lên bờ, cậu tự khai là học trò, vì trời nực ra tắm mát. Vua nhìn xuống hồ thấy cá lớn đang đuổi đàn cá con, liền ra câu đối bắt đối lại: “Nước trong leo lẻo, cá đớp cá“. Cậu Quát ứng khẩu ngay: “Trời nắng chang chang, người trói người”. Vua phục tài cậu học trò, tha không đánh đòn. Cậy tài văn chương, ông vốn có tính kiêu căng, cao ngạo. Ông nói: “Cả thiên hạ có 4 bồ chữ, anh Bá Đạt (anh sinh đôi của Cao Bá Quát) và ông Nguyễn Văn Siêu giữ một bồ, một mình tôi chiếm hai bồ, còn một bồ thì phân chia cho cả thiên hạ”.

Ngông nghênh sửa cả thơ vua

Vua Tự Đức rất có tài làm thơ văn nên thường nghĩ ra những trò văn chương với các quan. Một lần vua làm câu đối: “Tử năng thừa phụ nghiệp/ Thần khả báo quân ân” (con nối nghiệp cha, tôi đền ơn vua). Các quan đều tấm tắc khen hay, duy chỉ có Cao Bá Quát không phục, ông nói: “Hảo hề! Hảo hề! phụ tử quân thần điên đảo” (Có nghĩa là “Hay thiệt! Hay thiệt! Cha con vua tôi đảo ngược”). Vua bắt giải thích, Cao Bá Quát bình tĩnh đáp: “Tâu bệ hạ, từ nhỏ đến lớn, thần đọc sách thánh hiền đều nói đến đạo quân thần ở trên đạo cha con, chứ chưa bao giờ nghe thấy nói đạo cha con ở trên đạo vua tôi, nay xem đôi câu đối, thần không thể ngăn được lòng bất mãn”. Vua Tự Đức nghe Quát nói có lý, bắt ông sửa lại. Ông Quát bèn đưa ra vế đối: “Quân ân, thần khả báo/ Phụ nghiệp, tử năng thừa” (Ơn vua, tôi phải trả/ Nghiệp cha, con phải theo). Vua cũng phải chịu là hay.

Dân gian tôn ông là Thánh Quát, vẫn lưu truyền câu thơ, được cho là lời khen của vua Tự Đức dành Cao Bá Quát và các bậc văn nhân kì tài thời đó:

Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán;

Thi đáo Tùng, Tuy bất Thịnh Đường.

Nghĩa là: Văn được như Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát thì trước đời Hán cũng không tìm thấy ai; Thơ đạt được bằng Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương thì đời Thịnh Đường cũng không có.

Tài cao nhưng cuộc đời lắm gian truân

Cao Bá Quát tài cao nhưng không may mắn trong thi cử. Ông thi Hương từ hạng hai bị đánh xuống hạng cuối, thi Hội nhiều lần, ông đều bị đánh trượt. Năm 1841, ông làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên, thấy một số bài thi hay nhưng có chỗ phạm trường quy, ông lấy son hòa với muội đèn chữa lại. Việc bị phát giác, ông bị giam cầm gần 3 năm. Cũng vì tính kiêu ngạo, ngang tàng, Cao Bá Quát không được lòng nhiều quan lớn, kể cả nhà vua, sau bị đầy đi làm giáo thụ ở Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây. Khoảng năm 1854-1855, nhiều tỉnh ở miền Bắc gặp đại hạn, mất mùa, đời sống nhân dân hết sức cực khổ. Cao Bá Quát tham gia lãnh đạo khởi nghĩa Mỹ Lương, thuộc vùng Sơn Tây. Khởi nghĩa thất bại, Cao Bá Quát bị bắn chết tại trận, triều đình ra lệnh tru di tam tộc dòng họ Cao. Đến nay sự thật về cái chết của ông vẫn là một nghi vấn chưa thể làm sáng tỏ.

Share: